Đề cương tuyên truyền Ngày pháp luật tháng 8/2016 giới thiệu Luật Phòng, chống mua bán người

Xem hình
Mới đây, ngày 10/5/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 793/QĐ-TTg về việc chọn ngày 30 tháng 7 hàng năm là ngày “Toàn dân phòng, chống mua bán người”; UBND huyện Lộc Ninh cũng đã ban hành Công văn số 573/UBND-NC ngày 30/6/2016 triển khai Ngày toàn dân phòng, chống mua bán người trên địa bàn huyện.

Ban Biên tập Trang thông tin điện tử huyện Lộc Ninh xin giới thiệu những nội dung chủ yếu của Luật Phòng, chống mua bán người.

Luật Phòng, chống mua bán người được Quốc hội khóa XII kỳ họp thứ 9 đã thông qua ngày 29 tháng 3 năm 2011. Luật gồm 08 chương, 58 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2012.

            I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT

Trong những năm gần đây, mua bán người đã và đang trở thành một vấn nạn, gây bức xúc trong toàn xã hội, không chỉ ở Việt Nam mà trên phạm vi toàn thế giới. Tình hình tội phạm mua bán người nói chung và mua bán phụ nữ, trẻ em nói riêng diễn biến ngày càng phức tạp; tính chất và thủ đoạn hoạt động ngày càng nghiêm trọng, tinh vi, xảo quyệt; nhiều trường hợp có tổ chức chặt chẽ và có tính xuyên quốc gia.

Mặc dù trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực trong công tác phòng, chống mua bán người, đặc biệt là mua bán phụ nữ và trẻ em (như về chính sách pháp luật; thi hành pháp luật; hợp tác quốc tế...) nhưng tình hình tội phạm mua bán người vẫn diễn biến phức tạp do nhiều nguyên nhân, trong đó đáng lưu ý một số nguyên nhân sau đây:

Thứ nhất, do điều kiện kinh tế ở nhiều địa phương, nhất là vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Mặt khác, do tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo càng sâu sắc, tình trạng thiếu việc làm vẫn còn gay gắt ở một số địa bàn. Bên cạnh đó, một bộ phận trẻ em thất học dễ bị bọn tội phạm dụ dỗ, lừa gạt…

Thứ hai, việc giáo dục trong phạm vi gia đình cũng như toàn xã hội chưa được chú trọng đúng mức. Công tác truyền thông chưa được tiến hành thường xuyên, sâu rộng mà chỉ mới dừng lại ở một số địa bàn trọng điểm và vào các đợt cao điểm, đôi lúc còn dàn trải.

Thứ ba, công tác quản lý Nhà nước, quản lý xã hội còn bất cập, sơ hở nhất là trong quản lý người nước ngoài, quản lý hộ khẩu, quản lý an ninh biên giới, xuất nhập cảnh, hôn nhân và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài…

Thứ tư, công tác tổ chức tiếp nhận, hỗ trợ hòa nhập cộng đồng cho nạn nhân bị mua bán từ nước ngoài trở về còn nhiều lúng túng và bị động; đến nay, mới có khoảng hơn 30% tổng số nạn nhân được hỗ trợ kinh phí hòa nhập cộng đồng.

Thứ năm, hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành về phòng, chống mua bán người của nước ta nhìn chung còn phân tán và về lĩnh vực "phòng" thì chủ yếu là các văn bản dưới luật, hiệu lực pháp lý chưa cao, chưa mang tính đồng bộ và toàn diện;

Nhằm khắc phục những bất cập, hạn chế nêu trên, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống mua bán người cũng như hỗ trợ nạn nhân hòa nhập cộng đồng, đồng thời tạo thuận lợi cho hoạt động hợp tác quốc tế về phòng, chống mua bán người, ngày 29 tháng 3 năm 2011, Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật Phòng, chống mua bán người.

II. NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA LUẬT PCMBN

Luật gồm 08 chương, 58 điều quy định về các nội dung chủ yếu sau đây:

1. Chương I - Những vấn đề chung gồm 06 điều (từ Điều 1 đến Điều 6)

Quy định về phạm vi điều chỉnh; nguyên tắc phòng, chống mua bán người; chính sách của Nhà nước về phòng, chống mua bán người; quyền, nghĩa vụ của nạn nhân, đồng thời, giải thích một số từ ngữ có liên quan đến phòng, chống mua bán người.

2. Chương II- Phòng ngừa mua bán người

Gồm 12 điều, quy định về việc phòng ngừa mua bán người. Nội dung quy định trong chương này có thể chia làm hai nhóm:

a) Nhóm thứ nhất gồm 05 điều (từ Điều 7 đến Điều 11) quy định về các biện pháp phòng ngừa chung, bao gồm: 5 biện pháp

            1. Thông tin, tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống mua bán người.

2. Tư vấn về phòng ngừa mua bán người.

3. Quản lý về an ninh, trật tự.

4. Quản lý các hoạt động kinh doanh, dịch vụ.

5. Lồng ghép nội dung phòng ngừa mua bán người vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội.

b) Nhóm thứ hai gồm 07 điều (từ Điều 12 đến Điều 18) quy định về các biện pháp phòng ngừa thông qua hoạt động của các tổ chức, cơ sở hoạt động kinh doanh, dịch vụ; nhà trường và các cơ sở giáo dục, đào tạo; cơ quan thông tin đại chúng; sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc và các thành viên của Mặt trận cũng như sự tham gia của cá nhân và gia đình trong công tác phòng ngừa mua bán người.

1. Xuất phát từ nhận thức trong công tác đấu tranh phòng, chống mua bán người thì mỗi cá nhân, gia đình có vai trò quan trọng, từng cá nhân phải tự ý thức được trách nhiệm của mình đối với việc phòng ngừa để không trở thành nạn nhân bị mua bán, đồng thời, cũng cần có trách nhiệm trong việc phòng ngừa tội phạm này, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán, giúp đỡ họ ổn định cuộc sống.

2. Học sinh, sinh viên là một trong những đối tượng mà công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống mua bán người hướng trọng tâm đến.

3. Thực tiễn trong thời gian qua cho thấy, bọn tội phạm thường lợi dụng sơ hở trong một số lĩnh vực hoạt động để mua bán người,

4. Cơ quan thông tin đại chúng có vai trò quan trọng trong công tác thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống mua bán người.

5. Các cơ quan nhà nước, các đoàn thể xã hội

3. Chương III- Phát hiện, xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người

Gồm 5 điều (từ Điều 19 đến Điều 23) quy định về việc phát hiện, tố giác, tố cáo, báo tin về hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người; giải quyết các tin báo, tố giác, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người.

Về phần xử lý, việc xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm trong lĩnh vực phòng, chống mua bán người nói riêng đã được Bộ luật tố tụng hình sự, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật quy định khá đầy đủ và cụ thể. Vì vậy, Luật PCMBN chỉ dừng lại ở một số quy định mang tính nguyên tắc về việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người kèm theo viện dẫn sang các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Cụ thể: Điều 23 của Luật PCMBN quy định việc xử lý vi phạm theo nguyên tắc viện dẫn, tuy nhiên có phân biệt rõ việc xử lý đối với 03 loại đối tượng cụ thể, đó là:

Thứ nhất, đối với người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà có thể bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật;

Thứ hai, đối với người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che, dung túng, xử lý không đúng hoặc không xử lý hành vi vi phạm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật;

Thứ ba  đối với người giả mạo là nạn nhân thì ngoài việc bị xử lý theo quy định của pháp luật còn phải hoàn trả khoản kinh phí hỗ trợ đã nhận.

4. Chương IV -Tiếp nhận, xác minh nạn nhân; bảo vệ nạn nhân

Vấn đề tiếp nhận, xác minh và bảo vệ nạn nhân được quy định tại chương IV của Luật PCMBN. Nội dung chương này gồm có hai nhóm quy định:

Nhóm thứ nhất gồm 05 điều (từ Điều 24 đến Điều 28) quy định về quy trình tiếp nhận, xác minh nạn nhân và hỗ trợ ban đầu cho nạn nhân đến khai báo; xác định cơ quan đầu mối trong việc tiếp nhận và hỗ trợ ban đầu cho nạn nhân cũng như căn cứ xác định và các loại giấy tờ, tài liệu chứng nhận nạn nhân.

Nhóm thứ hai gồm 03 điều (từ Điều 29 đến Điều 31) quy định về việc giải cứu, các biện pháp bảo vệ an toàn, bảo vệ bí mật thông tin của nạn nhân cũng như bảo vệ an toàn cho người thân thích của họ.

5. Chương V- Hỗ trợ nạn nhân

Hỗ trợ nạn nhân bị mua bán là một trong những nội dung quan trọng trong công tác phòng, chống mua bán người.

Luật PCMBN quy định 06 chế độ hỗ trợ nạn nhân, bao gồm:

1) Hỗ trợ các nhu cầu thiết yếu và chi phí đi lại (bố trí chỗ ở tạm thời, hỗ trợ về ăn, mặc và các vật dụng cá nhân thiết yếu khác, hỗ trợ chi phí đi lại);

2) Hỗ trợ y tế;

3) Hỗ trợ tâm lý;

4) Trợ giúp pháp lý;

5) Hỗ trợ học văn hóa, học nghề;

6) Trợ cấp khó khăn ban đầu, hỗ trợ vay vốn.

Nhìn chung, các chế độ hỗ trợ này được Luật PCMBN quy định trên cơ sở khái quát, nâng cấp có sửa đổi, bổ sung mới các quy định hiện hành có liên quan tại Quy chế tiếp nhận và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về (ban hành kèm theo Quyết định số 17/2007/QĐ-TTg ngày 29/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ).

Điều 32 của Luật PCMBN xác định rõ những đối tượng được hưởng chế độ hỗ trợ nạn nhân và các chế độ mà từng đối tượng được hưởng trên tinh thần có sự phân biệt giữa các đối tượng, đồng thời, giao cho Chính phủ quy định chi tiết về các chế độ hỗ trợ; trình tự, thủ tục thực hiện các chế độ hỗ trợ đối với nạn nhân.

Ngoài ra, Luật PCMBN xác định rõ 05 nhóm cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thực hiện các chế độ hỗ trợ nạn nhân, bao gồm:

(1) Ủy ban nhân dân cấp xã đã tiếp nhận nạn nhân, cơ quan Công an, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển đã giải cứu nạn nhân thực hiện hỗ trợ nhu cầu thiết yếu cho nạn nhân;

(2) Phòng LĐTBXH thực hiện hỗ trợ chi phí đi lại cho nạn nhân trong trường hợp họ tự trở về nơi cư trú;

(3) Cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân thực hiện hỗ trợ nhu cầu thiết yếu, hỗ trợ tâm lý, hỗ trợ y tế cho nạn nhân;

(4) Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước và các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý cho nạn nhân;

(5) Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện trợ cấp khó khăn ban đầu cho nạn nhân; phối hợp với Sở Y tế, Sở Giáo dục và Đào tạo thực hiện hỗ trợ y tế, hỗ trợ học văn hóa, học nghề cho nạn nhân. Đồng thời, Luật PCMBN cũng xác định rõ địa vị pháp lý cũng như nhiệm vụ của cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân trong việc tiếp nhận, cung cấp các dịch vụ chăm sóc, tư vấn và hỗ trợ những điều kiện cần thiết khác cho nạn nhân.

6. Chương VI - Trách nhiệm của Chính phủ, các Bộ và địa phương trong phòng, chống mua bán người

Gồm 12 điều (từ Điều 41 đến Điều 52) quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về phòng, chống mua bán người, xác định cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp trong phòng, chống mua bán người và quy định về trách nhiệm của Chính phủ, của một số Bộ và địa phương trong phòng, chống mua bán người.

“Điều 52. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp

1. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm:

a) Lồng ghép nội dung phòng, chống mua bán người vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội;

b) Tổ chức thực hiện công tác phòng, chống mua bán người;

c) Bố trí ngân sách cho công tác phòng, chống mua bán người;

d) Xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người;

đ) Tổ chức thực hiện công tác quản lý an ninh, trật tự để phòng, chống mua bán người.

2. Cùng với việc thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này, Ủy ban nhân dân cấp xã còn có trách nhiệm:

a) Chủ trì, phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và các tổ chức thành viên của Mặt trận tổ chức, tạo điều kiện cho hoạt động tư vấn về phòng, chống mua bán người ở cơ sở

b) Tiếp nhận nạn nhân và thực hiện việc hỗ trợ cho nạn nhân theo quy định tại khoản 1 Điều 24 của Luật này;

c) Tạo điều kiện cho nạn nhân hòa nhập cộng đồng.”

7. Chương VII- Hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua bán người

Chương VII của Luật PCMBN gồm 4 điều (từ Điều 53 đến Điều 56) quy định về vấn đề hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua bán người, bao gồm một số nguyên tắc hợp tác quốc tế và việc thực hiện hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua bán người, trong đó có cả giải cứu và hồi hương nạn nhân cũng như tương trợ tư pháp trong lĩnh vực phòng, chống mua bán người./.

          8. Chương VIII- Điều khoản thi hành (02 điều 57, 58)

            Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2012

 

Phòng Tư pháp huyện Lộc Ninh sưu tầm và giới thiệu từ Trang thông tin điện tử langson.gov.vn



Gửi qua YM

 Bản để in  Lưu dạng file


Những bản tin khác:



Lên đầu trang

Loading...